14 chính tinh trong tử vi – nhóm sao Tử Vi, Thiên Phủ và tính cách

Tử Vi · Thiên Tử Vi · 28/10/2026 · 7 phút đọc

Tìm hiểu 14 chính tinh tử vi theo hai nhóm Tử Vi và Thiên Phủ, cách an sao, ngũ hành, nét tính cách mạnh yếu của từng sao và các bộ sao thường gặp.

Mười bốn chính tinh là bộ khung của lá số tử vi: chúng quyết định "màu sắc" chính của mỗi cung, còn các phụ tinh chỉ tô đậm hoặc làm nhạt màu sắc ấy. Mười bốn sao được chia làm hai nhóm – nhóm Tử Vi sáu sao và nhóm Thiên Phủ tám sao – và vị trí của cả bộ được suy ra từ một điểm duy nhất là sao Tử Vi. Bài này giải thích cách chúng được an, rồi điểm qua tính cách từng sao.

Cả bộ chính tinh được an như thế nào

Sao Tử Vi được an theo cục và ngày sinh âm lịch. Khi đã có Tử Vi, năm sao còn lại của nhóm đi nghịch theo khoảng cách cố định:

  • Thiên Cơ: lùi 1 cung
  • Thái Dương: lùi 3 cung
  • Vũ Khúc: lùi 4 cung
  • Thiên Đồng: lùi 5 cung
  • Liêm Trinh: lùi 8 cung

Sao Thiên Phủ đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân: Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì Thiên Phủ cùng cung; Tử Vi ở Mão thì Phủ ở Sửu, Tử Vi ở Thìn thì Phủ ở Tý, và cứ thế. Từ Thiên Phủ, bảy sao còn lại đi thuận:

  • Thái Âm: tiến 1 cung
  • Tham Lang: tiến 2 cung
  • Cự Môn: tiến 3 cung
  • Thiên Tướng: tiến 4 cung
  • Thiên Lương: tiến 5 cung
  • Thất Sát: tiến 6 cung
  • Phá Quân: tiến 10 cung

Nhờ quy tắc cố định này, một số sao luôn đi cùng hoặc luôn đối nhau. Thất Sát luôn đối cung với Thiên Phủ; Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân luôn đứng ở ba cung tam hợp của nhau; Vũ Khúc luôn tam hợp với Tử Vi. Công cụ lá số tử vi an toàn bộ các sao này tự động, kèm độ sáng miếu, vượng, đắc, bình, hãm.

Nhóm Tử Vi

Tử Vi – Thổ

Sao đế tinh, chủ về uy nghi, lòng tự trọng và khả năng lãnh đạo. Mặt mạnh là bao quát, có trách nhiệm; mặt yếu là dễ cả nể, sĩ diện, thích được tôn trọng. Tử Vi cần có phụ tinh tốt như Tả Phù, Hữu Bật đi kèm mới phát huy hết. Xem thêm mục sao Tử Vi trong từ điển.

Thiên Cơ – Mộc

Sao của trí tuệ, mưu tính, sự linh hoạt. Người có Thiên Cơ thủ Mệnh thường nhanh nhạy, thích học hỏi, hợp công việc cần phân tích, kế hoạch. Mặt trái là hay lo, dễ thay đổi. Tra thêm sao Thiên Cơ.

Thái Dương – Hỏa

Mặt trời, tượng trưng cho sự rộng rãi, nhiệt tình, hướng ngoại, thích giúp người. Thái Dương rất phụ thuộc vị trí: sáng ở các cung ban ngày như Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ; kém sáng ở các cung ban đêm như Tuất, Hợi, Tý.

Vũ Khúc – Kim

Tài tinh, chủ về tiền bạc, sự quyết đoán và tính thực tế. Người Vũ Khúc làm việc chắc tay, giữ chữ tín, nhưng có lúc cứng nhắc, ít mềm mỏng trong cảm xúc.

Thiên Đồng – Thủy

Phúc tinh, hiền hòa, thích an nhàn, dễ hòa đồng. Thiên Đồng được xem là sao "khởi đầu vất vả, về sau hưởng" – có khó khăn rồi mới ổn định. Mặt yếu là thiếu quyết liệt, dễ ngại thay đổi.

Liêm Trinh – Hỏa

Sao phức tạp nhất nhóm: vừa nguyên tắc, kỷ luật, vừa giàu cảm xúc và mạnh mẽ. Liêm Trinh sáng thì liêm chính, có tài tổ chức; gặp nhiều sát tinh thì dễ nóng nảy, gặp thị phi. Nhiều sách ghi Liêm Trinh thuộc Hỏa, có sách nói Mộc đới Hỏa.

Nhóm Thiên Phủ

Thiên Phủ – Thổ

Kho tàng, chủ về sự ổn định, biết giữ gìn, quản lý tài sản. Người Thiên Phủ chín chắn, đáng tin, nhưng đôi khi bảo thủ hoặc an phận.

Thái Âm – Thủy

Mặt trăng, mềm mại, tinh tế, giàu tình cảm, có khiếu thẩm mỹ, thường gắn với nhà cửa và tích lũy. Ngược với Thái Dương, Thái Âm sáng ở các cung ban đêm như Dậu, Tuất, Hợi, Tý và kém ở các cung ban ngày.

Tham Lang – Thủy (có sách ghi Thủy đới Mộc)

Sao của ham muốn, đa tài, giao thiệp rộng, thích hưởng thụ và trải nghiệm. Tham Lang có sức hút, linh hoạt; mặt trái là dễ dàn trải, ham vui.

Cự Môn – Thủy

Ám tinh, chủ về lời nói, tranh luận, phân tích. Cự Môn sáng hợp nghề dùng lời nói như luật, giảng dạy, truyền thông; khi hãm dễ vướng thị phi, hiểu lầm.

Thiên Tướng – Thủy

Ấn tinh, biểu tượng của sự công bằng, chính trực, sẵn lòng giúp đỡ. Người Thiên Tướng thích chỉn chu, coi trọng hình thức đẹp và sự công tâm.

Thiên Lương – Mộc

Ấm tinh, như cây lớn che bóng: nhân hậu, có tinh thần bảo bọc, hợp nghề chăm sóc, cố vấn, y tế, giáo dục. Mặt yếu là hay "dạy đời", khó buông việc của người khác.

Thất Sát – Kim

Tướng tinh, dũng cảm, độc lập, dám đối đầu. Thất Sát hợp môi trường cạnh tranh, khởi nghiệp. Mặt trái là nóng vội, ít kiên nhẫn với chi tiết.

Phá Quân – Thủy

Hao tinh, sao của phá cũ lập mới. Người Phá Quân không ngại thay đổi, dám làm lại từ đầu; nhưng cũng dễ bốc đồng, chi tiêu mạnh tay.

Những bộ sao thường được nhắc tới

Vì vị trí tương đối cố định, sách tử vi hay gọi các chính tinh theo bộ – những sao thường cùng góp mặt quanh một cung và tam phương tứ chính của nó. Bốn bộ quen thuộc:

Bộ sao Gồm Nét chung
Tử Phủ Vũ Tướng Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng ổn định, quản lý, tổ chức
Cơ Nguyệt Đồng Lương Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương ôn hòa, hợp công việc chuyên môn, hành chính
Sát Phá Tham Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang (hay gọi chung với Liêm Trinh là Sát Phá Liêm Tham) biến động, dám mạo hiểm, thăng trầm rõ
Cự Nhật Cự Môn, Thái Dương lời nói, truyền đạt, danh tiếng

Bộ sao chỉ là một "khung tính cách". Cùng một bộ, người gặp nhiều cát tinh và Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ khác hẳn người gặp nhiều sát tinh và Hóa Kỵ.

Độ sáng của sao quan trọng thế nào

Mỗi chính tinh có bảng miếu – vượng – đắc – bình – hãm theo mười hai địa chi. Sao miếu vượng thể hiện mặt tốt rõ ràng; sao hãm vẫn giữ bản chất nhưng dễ bộc lộ mặt trái hoặc phải trải qua nhiều thử thách hơn. Bảng độ sáng mà Thiên Tử Vi dùng theo lối an sao Việt Nam phổ biến (Thái Thứ Lang). Một số sách có vài vị trí xếp khác nhau, nhất là giữa mức đắc và bình.

Lưu ý khi đọc tính cách theo sao

  • Mô tả tính cách ở trên là xu hướng theo truyền thống, không phải nhãn dán. Ai cũng có cả hai mặt.
  • Luôn đọc sao trong bối cảnh cung: Vũ Khúc ở Tài Bạch khác Vũ Khúc ở Phu Thê.
  • Tử vi là tri thức văn hóa để chiêm nghiệm. Đừng dùng nó để đánh giá, phân biệt hay loại trừ người khác.

Nếu bạn muốn đi tiếp, bài 12 cung trong lá số tử vi giải thích ý nghĩa nơi các sao đóng, còn bài Tứ Hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ cho biết sao nào được "kích hoạt" theo năm sinh của bạn.

Câu hỏi thường gặp

Sao nào tốt nhất trong 14 chính tinh?

Không có sao "tốt nhất". Mỗi sao hợp với một kiểu hoàn cảnh; một chính tinh sáng, có cát tinh hỗ trợ thì phát huy tốt, còn sao được coi là "đẹp" mà hãm và gặp sát tinh vẫn có thể vất vả.

Một cung có thể có bao nhiêu chính tinh?

Thường là một hoặc hai. Có cung không có chính tinh nào, gọi là vô chính diệu, khi đó người ta mượn sao ở cung đối diện để luận.

Vì sao Tử Vi ở Dần hoặc Thân thì đi cùng Thiên Phủ?

Vì Thiên Phủ được an đối xứng với Tử Vi qua trục Dần – Thân. Khi Tử Vi nằm đúng trên trục, hai sao trùng một cung.

Công cụ liên quan
Lá số Tử Vi

Bài viết thuộc bản quyền Thiên Tử Vi, mang tính tham khảo văn hóa phương Đông. Chia sẻ vui lòng ghi nguồn và dẫn liên kết về bài gốc.

Bài liên quan