Gieo quẻ Mai Hoa Dịch Số theo thời gian – công thức, ví dụ và cách đọc

Kinh Dịch · Thiên Tử Vi · 28/10/2026 · 7 phút đọc

Cách lập quẻ Mai Hoa Dịch Số theo năm, tháng, ngày, giờ âm lịch – công thức chia 8, chia 6, ví dụ tính tay, cách xác định Thể Dụng và đọc quẻ hỗ, quẻ biến.

Mai Hoa Dịch Số là phép lập quẻ Kinh Dịch bằng con số, nổi tiếng nhất là cách lấy chính thời điểm nảy ra câu hỏi để dựng quẻ. Bạn không cần đồng xu hay cỏ thi, chỉ cần biết năm, tháng, ngày, giờ theo âm lịch và làm vài phép chia. Bài này trình bày công thức, một ví dụ tính tay đầy đủ và cách đọc quẻ theo Thể – Dụng.

Nguồn gốc ngắn gọn

Phép này theo truyền thống gắn với Thiệu Ung (hiệu Khang Tiết, 1011–1077), nhà lý học thời Bắc Tống. Tương truyền ông thấy hai con chim sẻ tranh nhau trên cành mai, liền lấy thời điểm đó lập quẻ và đoán được một sự việc xảy ra hôm sau – tên "Mai Hoa" (hoa mai) bắt nguồn từ câu chuyện này. Sách Mai Hoa Dịch Số lưu hành ngày nay được nhiều nhà nghiên cứu cho là do người đời sau biên soạn, gom nhiều lớp truyền thừa.

Bảng số Tiên thiên của bát quái

Mai Hoa dùng thứ tự Tiên thiên:

Số 1 2 3 4 5 6 7 8
Quẻ Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn
Hành Kim Kim Hỏa Mộc Mộc Thủy Thổ Thổ

Cấu trúc hào của từng quẻ đơn có trong bài 64 quẻ Kinh Dịch – cấu trúc và cách đọc.

Công thức lập quẻ theo thời gian

Các con số lấy theo âm lịch:

  • Năm: theo chi năm – Tý 1, Sửu 2, Dần 3, Mão 4, Thìn 5, Tỵ 6, Ngọ 7, Mùi 8, Thân 9, Dậu 10, Tuất 11, Hợi 12.
  • Tháng: số tháng âm lịch, từ 1 đến 12.
  • Ngày: số ngày âm lịch, từ 1 đến 30.
  • Giờ: theo chi giờ – Tý 1 (23h–1h), Sửu 2, Dần 3… Hợi 12.

Rồi tính:

  1. Thượng quái = (năm + tháng + ngày) chia 8, lấy số dư.
  2. Hạ quái = (năm + tháng + ngày + giờ) chia 8, lấy số dư.
  3. Hào động = (năm + tháng + ngày + giờ) chia 6, lấy số dư.

Nếu chia hết (dư 0) thì lấy số chia: dư 0 khi chia 8 là quẻ Khôn (8); dư 0 khi chia 6 là hào 6. Đây là công thức phổ biến trong các bản Mai Hoa và cũng là cách công cụ gieo quẻ Kinh Dịch của Thiên Tử Vi tính khi bạn bấm "Lập quẻ theo giờ hiện tại". Có ý kiến khác về việc có cộng giờ khi tính hào động hay không, nhưng cách cộng giờ là cách thông dụng nhất.

Ví dụ tính tay từng bước

Giả sử bạn đặt câu hỏi vào khoảng 16 giờ ngày 28/10/2026 dương lịch. Tra lịch vạn niên, ngày này là 19 tháng 9 năm Bính Ngọ âm lịch; 16 giờ thuộc giờ Thân.

  • Năm Ngọ = 7, tháng = 9, ngày = 19, giờ Thân = 9.
  • Thượng quái: 7 + 9 + 19 = 35; 35 chia 8 dư 3 → Ly (Hỏa).
  • Hạ quái: 35 + 9 = 44; 44 chia 8 dư 4 → Chấn (Lôi).
  • Hào động: 44 chia 6 dư 2 → hào 2 động.

Quẻ chủ là Hỏa Lôi Phệ Hạp (quẻ số 21 theo thứ tự Văn Vương), hình ảnh "cắn vỡ vật cản".

Từ quẻ chủ, dựng thêm:

  • Quẻ biến: đổi hào 2 (hào giữa của Chấn) từ âm sang dương, hạ quái Chấn thành Đoài, được Hỏa Trạch Khuê.
  • Quẻ hỗ: lấy hào 2, 3, 4 làm hạ quái (âm, âm, dương = Cấn) và hào 3, 4, 5 làm thượng quái (âm, dương, âm = Khảm), được Thủy Sơn Kiển.

Thử với câu chuyện cành mai theo sách: năm Thìn (5), tháng 12, ngày 17, giờ Thân (9). Thượng quái 34 chia 8 dư 2 là Đoài; hạ quái 43 chia 8 dư 3 là Ly; hào động 43 chia 6 dư 1. Quẻ Trạch Hỏa Cách, hào 1 động – đúng như quẻ được nhắc trong truyền thuyết.

Thể và Dụng – trục chính của phép đoán Mai Hoa

Quẻ kép có hai quẻ đơn. Với một hào động:

  • Quẻ đơn có hào động là Dụng – đại diện cho sự việc, đối tượng, hoàn cảnh.
  • Quẻ đơn không có hào động là Thể – đại diện cho bản thân người hỏi.

Trong ví dụ trên, hào 2 động nằm ở hạ quái, nên Chấn là Dụng, Ly là Thể.

Sau đó so ngũ hành giữa Thể và Dụng:

Quan hệ Cách luận truyền thống
Dụng sinh Thể được giúp, việc có lợi
Thể khắc Dụng tốn sức nhưng làm chủ được tình thế
Thể Dụng tỷ hòa (cùng hành) thuận, có người đồng lòng
Thể sinh Dụng hao công sức, lợi ít
Dụng khắc Thể gặp trở ngại, nên thận trọng

Ví dụ của chúng ta: Chấn Mộc sinh Ly Hỏa, tức Dụng sinh Thể – theo cách luận Mai Hoa, sự việc có xu hướng thuận và được hỗ trợ. Người luận kỹ còn xét thêm quẻ hỗ (Khảm Thủy, Cấn Thổ) và quẻ biến (Đoài Kim) sinh khắc với Thể ra sao, cùng mùa đặt câu hỏi, để thấy diễn biến và kết cục.

Đọc ba quẻ theo thời gian

Một khung đọc dễ dùng:

  1. Quẻ chủ – tình thế hiện tại. Phệ Hạp: có vướng mắc cần giải quyết dứt điểm.
  2. Quẻ hỗ – diễn biến bên trong, giai đoạn giữa. Kiển: đường đi có chướng ngại, nên dừng lại cân nhắc, tìm người giúp.
  3. Quẻ biến – xu hướng kết cục. Khuê: ý kiến hai bên khác nhau; tìm điểm chung nhỏ thì việc nhỏ vẫn thành.

Kết hợp với Thể – Dụng, ta có một câu chuyện có đầu có cuối. Ý nghĩa sâu hơn của hào động và các quẻ phụ có trong bài lục hào, hào động, quẻ biến, quẻ hỗ.

Các cách lấy số khác trong Mai Hoa

Ngoài thời gian, Mai Hoa còn lấy số từ:

  • Hai con số bất kỳ nảy ra trong đầu: số thứ nhất làm thượng quái, số thứ hai làm hạ quái, tổng hai số chia 6 cho hào động.
  • Dãy số (số serial, biển số…): công cụ của Thiên Tử Vi lấy tổng nửa đầu làm thượng quái, tổng nửa sau làm hạ quái, tổng tất cả cho hào động.
  • Âm thanh, số nét chữ, đồ vật, phương hướng: các cách này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm người lập quẻ.

Lưu ý khi lập quẻ

  • Mỗi quẻ một câu hỏi, đặt rõ ràng, cụ thể. Câu hỏi mơ hồ thì quẻ cũng khó đọc.
  • Không hỏi lặp lại cùng một việc nhiều lần chỉ vì chưa vừa ý – truyền thống coi đó là thiếu thành tâm, còn về lý thì việc này làm mất ý nghĩa của phép thử.
  • Giờ Tý: công cụ lấy ngày âm lịch theo ngày dương lịch hiện tại; nếu bạn hỏi trong khoảng 23h–24h và muốn tính sang ngày mới, hãy tự cộng lại theo công thức.
  • Tháng nhuận: dùng số của tháng đó (tháng 4 nhuận vẫn tính là 4).

Mai Hoa Dịch Số là tri thức truyền thống mang tính chiêm nghiệm; khả năng dự đoán chưa được khoa học thực nghiệm chứng minh. Giá trị thực tế của nó nằm ở chỗ buộc ta dừng lại, gọi tên vấn đề và nhìn nó từ nhiều góc.

Câu hỏi thường gặp

Lập quẻ theo giờ có cần chính xác đến phút không?

Không. Chỉ cần đúng canh giờ, vì giờ được tính theo chi. Hai người hỏi trong cùng một canh giờ sẽ ra cùng một quẻ – khi đó truyền thống khuyên kết hợp thêm hoàn cảnh riêng của từng người để luận.

Không có hào động thì sao?

Lập theo thời gian luôn có đúng một hào động. Chỉ khi gieo đồng xu hoặc tự nhập hào mới có trường hợp không có hào động; khi đó quẻ được xem là tình thế tương đối ổn định.

Năm âm lịch tính từ Tết hay từ Lập xuân?

Mai Hoa theo lối phổ biến dùng năm âm lịch, tức đổi tại Tết. Đây là điểm khác với Bát Tự, vốn đổi năm tại Lập xuân.

Bài viết thuộc bản quyền Thiên Tử Vi, mang tính tham khảo văn hóa phương Đông. Chia sẻ vui lòng ghi nguồn và dẫn liên kết về bài gốc.

Bài liên quan