Tứ Trụ là gì? Cách tính 4 trụ năm, tháng, ngày, giờ theo tiết khí
Tứ Trụ (Bát Tự) gồm bốn cặp can chi năm, tháng, ngày, giờ sinh. Bài viết hướng dẫn cách tính từng trụ theo tiết khí, bảng Ngũ Hổ Độn, Ngũ Thử Độn và ví dụ.
Tứ Trụ, còn gọi là Bát Tự (tám chữ), là bốn cặp thiên can – địa chi ứng với năm, tháng, ngày và giờ sinh. Khác với tử vi lấy âm lịch làm gốc, Tứ Trụ tính năm và tháng theo tiết khí, tức vị trí của Mặt Trời trên hoàng đạo. Vì vậy trụ tháng của bạn có thể không trùng với tháng âm lịch, và người sinh trước Tết vẫn có thể đã sang năm mới theo Bát Tự.
Tám chữ gồm những gì
| Trụ | Thiên can | Địa chi | Ý nghĩa truyền thống |
|---|---|---|---|
| Năm | can năm | chi năm | gốc rễ, tổ tiên, thời thơ ấu |
| Tháng | can tháng | chi tháng (lệnh tháng) | cha mẹ, anh chị em, môi trường trưởng thành |
| Ngày | Nhật chủ | chi ngày | bản thân, người bạn đời |
| Giờ | can giờ | chi giờ | con cái, hậu vận |
Can của trụ ngày gọi là Nhật chủ (Nhật nguyên) – đại diện cho chính người đó. Mọi phân tích Bát Tự, từ thập thần đến dụng thần, đều xoay quanh quan hệ giữa Nhật chủ và bảy chữ còn lại.
Trụ năm: đổi tại Lập xuân, không phải Tết
Năm Bát Tự bắt đầu tại thời điểm Lập xuân – khi Mặt Trời đạt kinh độ hoàng đạo 315°, thường rơi vào ngày 3, 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch. Người sinh trước khoảnh khắc Lập xuân thuộc năm can chi trước, dù đã qua Tết hay chưa.
Can chi năm theo chu kỳ sáu mươi. Một cách tính nhanh với năm dương lịch: can ứng với chữ số cuối của năm (0 Canh, 1 Tân, 2 Nhâm, 3 Quý, 4 Giáp, 5 Ất, 6 Bính, 7 Đinh, 8 Mậu, 9 Kỷ), còn chi lặp lại mỗi mười hai năm (2020 là Tý, 2026 là Ngọ). Nhớ áp dụng cho "năm Bát Tự", tức đã xét Lập xuân.
Trụ tháng: theo mười hai tiết
Một năm có hai mươi bốn tiết khí, xen kẽ "tiết" và "khí". Trụ tháng đổi tại mười hai tiết:
| Chi tháng | Bắt đầu từ tiết | Ngày dương lịch gần đúng |
|---|---|---|
| Dần | Lập xuân | 4/2 |
| Mão | Kinh trập | 6/3 |
| Thìn | Thanh minh | 5/4 |
| Tỵ | Lập hạ | 6/5 |
| Ngọ | Mang chủng | 6/6 |
| Mùi | Tiểu thử | 7/7 |
| Thân | Lập thu | 8/8 |
| Dậu | Bạch lộ | 8/9 |
| Tuất | Hàn lộ | 8/10 |
| Hợi | Lập đông | 7/11 |
| Tý | Đại tuyết | 7/12 |
| Sửu | Tiểu hàn | 6/1 |
Ngày giao tiết dao động một, hai ngày mỗi năm và có giờ phút cụ thể (vì sao lại như vậy được giải thích trong bài 24 tiết khí và chuyển động biểu kiến của Mặt Trời); bạn có thể tra ở trang ngày lễ và tiết khí hoặc lịch vạn niên.
Can tháng theo Ngũ Hổ Độn
Can của tháng Dần (tháng đầu năm) phụ thuộc can năm, các tháng sau tăng dần:
| Can năm | Tháng Dần là |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Bính Dần |
| Ất, Canh | Mậu Dần |
| Bính, Tân | Canh Dần |
| Đinh, Nhâm | Nhâm Dần |
| Mậu, Quý | Giáp Dần |
Trụ ngày: chu kỳ sáu mươi liên tục
Can chi ngày chạy liên tục theo vòng sáu mươi, không phụ thuộc tháng hay năm. Cách nhanh nhất là tra lịch vạn niên. Điểm cần lưu ý là giờ Tý: người sinh từ 23h đến trước 24h, theo quan điểm phổ biến, được tính sang ngày hôm sau, nên trụ ngày cũng chuyển sang can chi kế tiếp. Thiên Tử Vi dùng quy ước này làm mặc định. Bài giờ sinh sai thì lá số sai thế nào phân tích kỹ chuyện giờ Tý sớm, muộn.
Trụ giờ: chi theo canh giờ, can theo Ngũ Thử Độn
Chi giờ là canh giờ sinh (Tý 23h–1h, Sửu 1h–3h…). Can giờ suy từ can ngày:
| Can ngày | Giờ Tý là |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Giáp Tý |
| Ất, Canh | Bính Tý |
| Bính, Tân | Mậu Tý |
| Đinh, Nhâm | Canh Tý |
| Mậu, Quý | Nhâm Tý |
Từ giờ Tý, can và chi cùng tăng một bậc cho mỗi canh giờ.
Ví dụ tính trọn bốn trụ
Một người sinh lúc 10 giờ sáng ngày 15/8/1990 tại Việt Nam:
- Năm: đã qua Lập xuân 1990, năm 1990 là Canh Ngọ.
- Tháng: Lập thu năm đó rơi vào rạng sáng 8/8, tiết kế tiếp Bạch lộ là 8/9. Ngày 15/8 nằm trong tháng Thân. Năm Canh thì tháng Dần là Mậu Dần, đếm đến tháng Thân: Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân.
- Ngày: tra lịch, ngày 15/8/1990 là Nhâm Tý.
- Giờ: 10h thuộc giờ Tỵ. Ngày Nhâm thì giờ Tý là Canh Tý, đếm tiếp: Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ.
Bát Tự: Canh Ngọ – Giáp Thân – Nhâm Tý – Ất Tỵ, Nhật chủ là Nhâm Thủy.
Điều thú vị: theo âm lịch, ngày này là 25 tháng 6, tức tháng Mùi. Nhưng vì đã qua Lập thu, trụ tháng Bát Tự là tháng Thân. Đây là lý do lá số tử vi và Bát Tự của cùng một người có thể ghi "tháng" khác nhau. Bạn có thể kiểm tra lại bằng công cụ Tứ Trụ, kết quả sẽ hiện kèm tên tiết trước và sau ngày sinh.
Tàng can – chữ ẩn trong địa chi
Mỗi địa chi chứa một đến ba thiên can ẩn (tàng can), là cơ sở để tính ngũ hành và thập thần đầy đủ. Ví dụ chi Thân chứa Canh (chính khí), Nhâm và Mậu; chi Tỵ chứa Bính, Canh, Mậu. Vì vậy dù trên mặt chỉ có tám chữ, khi phân tích người ta thực chất xét nhiều hơn tám can. Bảng tàng can đầy đủ có trong bài thập thần trong Bát Tự.
Sau bốn trụ là gì
Có bốn trụ rồi, các bước phân tích tiếp theo thường là:
- Đếm ngũ hành và xét Nhật chủ vượng hay nhược (sinh đúng mùa, có gốc ở địa chi, có can cùng hành hỗ trợ không).
- Xác định thập thần của từng chữ.
- Tìm dụng thần – hành giúp lá số cân bằng.
- Xem đại vận mười năm và lưu niên từng năm.
Mỗi bước là một chủ đề lớn; công cụ của Thiên Tử Vi tính sẵn các phần này theo phương pháp cân điểm giản lược để bạn tham khảo.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ngày 2/2, trước Tết nhưng sau Lập xuân thì thuộc năm nào?
Trong Bát Tự, nếu đã qua thời điểm Lập xuân thì thuộc năm mới, bất kể Tết đã đến hay chưa. Trong tử vi, năm vẫn tính theo âm lịch, tức đổi tại Tết.
Có cần chính xác đến phút không?
Chỉ cần khi bạn sinh sát ranh giới: sát giờ giao tiết, sát Lập xuân hoặc sát ranh giới hai canh giờ. Ngoài các trường hợp đó, biết đúng canh giờ là đủ.
Bát Tự có nói chắc chắn về tương lai không?
Không. Bát Tự là hệ thống tri thức truyền thống có giá trị văn hóa và chiêm nghiệm; khả năng dự đoán của nó chưa được khoa học thực nghiệm chứng minh. Hãy dùng nó để hiểu xu hướng của bản thân, không thay cho quyết định dựa trên thông tin thực tế.
Bài viết thuộc bản quyền Thiên Tử Vi, mang tính tham khảo văn hóa phương Đông. Chia sẻ vui lòng ghi nguồn và dẫn liên kết về bài gốc.